Thứ Sáu, 15 tháng 5, 2015

Gian lận thuế, Pepsi Việt Nam bị phạt hơn 1 triệu USD

Công ty TNHH Nước giải khát Suntory Pepsico Việt Nam (SPVB) - một doanh nghiệp (DN) có chi nhánh nhà máy sản xuất tại Cần Thơ vừa bị Cục Thuế TP.HCM ban hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền “khủng” - gần 24,341 tỷ đồng.

SPVB là doanh nghiệp FDI (có vốn đầu tư nước ngoài), được thành lập theo Giấy chứng nhận đầu tư do UBND TP.HCM cấp ngày 27/9/2007 và Giấy chứng nhận đầu tư thay đổi lần 6 vào ngày 28/8/2014. SPVB có trụ sở chính tại quận 1, do ông Chandra Shekhar Arvind Mundlay làm tổng giám đốc điều hành, đại diện theo pháp luật.

Vào năm 2008, SPVB thực hiện một dự án đầu tư mới - Dự án Nhà máy Cần Thơ - Pepsico Việt Nam, chuyên sản xuất các loại nước giải khát tại Lô số 2.19B, KCN Trà Nóc 2, phường Phước Thới, quận Ô Môn, TP. Cần Thơ, với tổng số vốn là 40 triệu USD. Dự án này được Ban quản lý các Khu chế xuất và Công nghiệp Cần Thơ (CEPIZA) ký, cấp gấy chứng nhận đầu tư lần đầu số 57221000042, ngày 24/1/2008. Dự án được thành lập dưới hình thức Chi nhánh sản xuất của SPVB chi nhánh Cần Thơ.

Nhà máy của SPVB tại Cần Thơ.

Theo Giấy chứng nhận đầu tư vừa kể, SPVB Chi nhánh Cần Thơ được hưởng các ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) gồm: Thuế suất 15% áp dụng trong 12 năm kể từ khi bắt đầu đi vào hoạt động kinh doanh; miễn thuế TNDN trong 3 năm và được giảm 50% số thuế phải nộp trong 7 năm tiếp theo.

Cuối năm 2014, Cục Thuế TP.HCM đã lập Đoàn tiến hành thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật thuế tại Công ty SPVB (cho giai đoạn 2012-2013). Đến ngày 10/112014, Cục trưởng Cục Thuế TP.HCM kết luận Công ty SPVB đã có hành vi vi phạm trong việc kê khai thuế, nộp thuế và nội dung ưu đãi miễn giảm thuế TNDN.

Đến ngày 9/2/2015, Cục Thuế TP.HCM đã ban hành Quyết định số 488/QĐ-CT-XP, xử phạt (phạt tiền) và biện pháp khắc phục hậu quả đối với SPVB, với tổng số tiền mà DN này phải nộp trong thời gian 10 ngày kể từ ngày nhận được quyết định, là 24.340.899.403 đồng.

Cụ thể, phạt 2.714.276.962 đồng (vì hành vi khai sai thuế TNDN); truy thu thuế TNDN số tiền 18.038.804.138 đồng và tiền chậm nộp tiền thuế 3.587.818.303 đồng (vì hành vi kê khai sai dẫn đến thiếu số thuế phải nộp).

Cục Thuế TP.HCM đã áp dụng tình tiết tăng nặng do SPVB tiếp tục tái phạm hành vi kê khai sai về ưu đãi đầu tư mở rộng sau khi đã có kết luận và kiến nghị qua kiểm tra của cơ quan thuế cho năm 2011 (do Tổng cục Thuế tiến hành).

Tại Văn bản số 212/TCT-CS đề ngày 20/1/2015 gởi Cục Thuế TP.HCM và SPVB, ông Cao Anh Tuấn - Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Thuế, cho biết: Năm 2007, SPVB có lập chi nhánh tại Cần Thơ. Chi nhánh SPVB tại Cần Thơ thực hiện đầu tư Nhà máy Cần Thơ - Pepsico Việt Nam hoạt động từ tháng 1/2008. Đối chiếu với các điều kiện quy định tại điểm b khoản 2 Điều 34 và khoản 4 Điều 35 Nghị định số 24/2007/NĐ-CP của Chính phủ thì Chi nhánh này không đáp ứng được điều kiện hưởng ưu đãi thuế TNDN đối với cơ sở mới thành lập mà thuộc diện ưu đãi đầu tư mở rộng theo quy định tại khoản 4 Điều 36 của nghị định vừa kể, và được miễn giảm thuế TNDN cho phần thu nhập tăng thêm do đầu tư mang lại: miễn 3 năm số thuế phải nộp và giảm 5 năm tiếp theo (không ưu đãi về thuế suất).

Trong văn bản phúc đáp kể trên, lãnh đạo Tổng cục Thuế cũng đề nghị SPVB trao đổi với CEPIZA về việc đơn vị này cấp GCNĐT chưa phù hợp pháp luật.

Đối với SPVB, bất ngờ trước quyết định xử phạt vi phạm hành chính của Cục Thuế TPHCM, phía lãnh đạo của DN này cho biết quyết định đầu tư vào dự án Cần Thơ của DN được thực hiện trên cơ sở các ưu đãi thuế được cấp cho dự án năm 2008. SPVB đã tuân thủ hoàn toàn theo các điều kiện trong GCNĐT và hoàn toàn tin tưởng rằng GCNĐT có tính pháp lý cao nhất, là cơ sở cho phép DN được phép đầu tư và cũng là một trong những cam kết từ phía Nhà nước về các điều kiện cũng như ưu đãi đối với đầu tư của DN. Việc Chi nhánh của SPVB Cần Thơ được hưởng các ưu đãi thuế theo GCNĐT do CEPIZA là cơ quan nhà nước có đủ thẩm quyền cấp là hoàn toàn phù hợp với quy định của pháp luật Việt Nam.

(Theo CAND)


Thứ Hai, 11 tháng 5, 2015

Lãi suất giảm sâu, doanh nghiệp vẫn khó vay vốn

Theo thông báo từ Ngân hàng Nhà nước, mặt bằng lãi suất đã giảm về ngang mức của năm 2006-2007. Tuy nhiên, trên thực tế, doanh nghiệp, đặc biệt là nhóm vừa và nhỏ vẫn khó tiếp cận nguồn vốn giá rẻ.

Dữ liệu từ Ngân hàng Nhà nước cho hay, mặt bằng lãi suất đã giảm về ngang mức của năm 2006-2007. Hiện, mặt bằng lãi suất cho vay phổ biến đối với các lĩnh vực ưu tiên ở mức 6-7%/năm đối với ngắn hạn, các NHTM nhà nước tiếp tục áp dụng lãi suất cho vay trung và dài hạn phổ biến đối với các lĩnh vực ưu tiên ở mức 9-10%/năm. Lãi suất cho vay các lĩnh vực sản xuất kinh doanh thông thường ở mức 7-9%/năm đối với ngắn hạn; 9,3-11%/năm đối với trung và dài hạn.

Thậm chí, lãnh đạo nhiều ngân hàng còn cho biết, lãi suất hiện không còn là vấn đề với các doanh nghiệp trong tiếp cận vốn khi một số đơn vị còn được vay ở mức 5-6% một năm. Vậy nguyên nhân vì sao khiến doanh nghiệp vẫn khó tiếp cận nguồn vốn vay “giá rẻ” trong bối cảnh hiện nay?

Cán bộ tín dụng một nhà băng tại Hà Nội thừa nhận: “Vốn ngân hàng hiện đang rất dồi dào, nhưng phải thừa nhận là khó cho vay ra. Chúng tôi vẫn nhận được các hợp đồng vay vốn từ doanh nghiệp nhỏ và vừa, nhưng không phải hợp đồng nào cũng được vay vốn và được vay với mức tối đa như khách hàng muốn”.

Lý giải điều này, cán bộ tín dụng cho biết: Có hai nguyên nhân chính khiến các doanh nghiệp nhỏ và vừa khó tiếp cận nguồn vốn vay hiện nay. Đó là vì doanh nghiệp không có tài sản đảm bảo (điều kiện cần) và khi làm kế hoạch kinh doanh tính khả thi không cao bằng các doanh nghiệp lớn, chưa tạo được niềm tin đối với các ngân hàng như doanh nghiệp lớn (điều kiện đủ).

Nhiều ngân hàng đã “tung” ra thị trường các gói tín dụng lớn với nhiều mức lãi suất ưu đãi.

Mới đây, để thúc đẩy tăng trưởng tín dụng, nhà điều hành đã ra chỉ đạo yêu cầu các ngân hàng tăng cường cho vay tín chấp, đặc biệt với những đối tượng không có điều kiện về tài sản đảm bảo. Vpbank đã nhanh chóng đưa ra gói dịch vụ Thẻ tín dụng không cần tài sản đảm bảo, chương trình Tín dụng thông minh cùng những sản phẩm tín dụng với yêu cầu kết hợp tài sản đảm bảo linh hoạt và đa dạng dành cho doanh nghiệp vừa và nhỏ.

Cùng với đó, nhiều ngân hàng đã “tung” ra thị trường các gói tín dụng lớn với nhiều mức lãi suất ưu đãi. Điển hình như tại Ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng (VPBank), với mục đích đồng hành, hỗ trợ vốn cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ, từ nay đến 30/9, ngân hàng này triển khai chương trình “5.000 tỷ cho vay ưu đãi dành cho khách hàng doanh nghiệp vừa và nhỏ” trên phạm vi toàn quốc.

Chương trình được áp dụng đối với khách hàng là doanh nghiệp vừa và nhỏ đã được cấp tín dụng tại VPBank hoặc các tổ chức khách có nhu cầu vay vốn. Theo đó, các doanh nghiệp VVN sẽ được hưởng mức lãi suất cho vay ưu đãi giảm tối đa 2%/năm so với mức lãi suất thông thường theo quy định của VPBank, áp dụng trong thời gian tối đa 6 tháng đối với mỗi khoản vay.

Gói ưu đãi được áp dụng không chỉ với các khách hàng có nhu cầu về tín dụng mà còn nhu cầu về tài trợ thương mại cũng như các hoạt động tín dụng theo ngành đặc thù (ví dụ như gạo, thủy sản).

Trao đổi với phóng viên, đại diện lãnh đạo ngân hàng cho biết: “VPBank luôn xác định doanh nghiệp vừa và nhỏ (SME) là một phân khúc khách hàng quan trọng đối với sự tăng trưởng chiến lược dài hạn của ngân hàng. Sau thời gian tập trung hòan thiện sản phẩm và dịch vụ, ngân hàng đang tập trung nâng cao năng lực của cán bộ tư vấn tài chính doanh nghiệp nhằm đưa ra các giải pháp tài chính phù hợp cho khách hàng

Ngân hàng này cũng luôn không ngừng cải thiện đóng góp các giải pháp toàn diện về tài trợ thương mại, công cụ tài chính trực tuyến để doanh nghiệp có thể tận dụng tối ưu hóa gói ưu đãi 5000 tỷ

“Đây là một tín hiệu khả quan cho thấy, tăng trưởng tín dụng không còn bị dồn áp lực vào những tháng cuối năm. Dòng tín dụng cũng có xu hướng phân bổ tốt hơn vào những ngành và khu vực ưu tiên. Thanh khoản hệ thống ngân hàng ổn định; thanh khoản tiền VND và USD đều cải thiện và có xu hướng ổn định trong thời gian tới” - Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia nhận định.

Theo PV- Dân Trí

Thứ Bảy, 9 tháng 5, 2015

Khổ sở hoàn thuế

Hoàn thuế đang là gánh nặng của nhiều doanh nghiệp. Ảnh: Minh Khuê

Cùng với nhiều nỗi khổ khác trong lĩnh vực thuế, hiện nay, hoàn thuế đang là gánh nặng của nhiều doanh nghiệp.

Năm 2012, Công ty TNHH Thương mại Dịch vụ Thép Khương Mai nhập khẩu số lượng lớn thép với mục đích xuất khẩu. Công ty đã đóng thuế giá trị gia tăng (GTGT) tại cơ quan hải quan để thông quan hàng hóa, nhưng từ bấy đến nay vẫn chưa được hoàn số tiền thuế 2,65 tỉ đồng. Nói như ông Đinh Công Khương, Chủ tịch Hội đồng thành viên của Công ty Khương Mai, “doanh nghiệp thiệt hại không biết bao nhiêu”.

Mòn mỏi chờ hoàn thuế

Cho đến nay, vụ vướng mắc hoàn thuế của Công ty Khương Mai đã kéo dài ròng rã ba năm, hàng xuất khẩu cũng không xong nên còn nằm trong kho, vốn liếng của doanh nghiệp bị chôn trong đó.

Để phục vụ việc xuất khẩu, công ty phải lập một công ty khác, nhưng theo ông Khương, cũng hết sức mệt mỏi với đủ các thứ thủ tục, giấy tờ, vì theo quy định, doanh nghiệp chỉ được hoàn thuế khi có đủ 12 tháng kinh doanh, nghĩa là mọi thứ phải bắt đầu lại từ đầu.

Trong thời gian này, nhân viên của ông Khương mất rất nhiều thời gian cho việc đi lại cơ quan thuế để thực hiện các thủ tục. Và mới đây nhất thì chính ông Khương đã tham dự cuộc đối thoại với lãnh đạo Cục Thuế TPHCM để trình bày câu chuyện của mình, rằng trường hợp của công ty ông đã được cán bộ thuế trả lời là không được hoàn thuế vì kinh tế thành phố năm đó khó khăn, doanh nghiệp lại lỗ quá số vốn và hồ sơ hoàn thuế thì chưa chuẩn. Nhưng khi ông gõ cửa “cò” dịch vụ hoàn thuế thì được trả lời là sẽ lo được nhưng phải trả phí bằng một nửa số tiền được nhận. Lãnh đạo Cục Thuế TPHCM tại buổi đối thoại đã trả lời một số vướng mắc của ông Khương và mời ông lên cục thuế làm việc trực tiếp.

“Chúng tôi đã làm việc và được bộ phận quản lý trực tiếp thuộc cục thuế hướng dẫn làm hồ sơ. Dự kiến trong nay mai chúng tôi sẽ hoàn thiện hồ sơ để nộp lại. Kết quả như thế nào thì vẫn chưa biết”, ông Khương cập nhật tình hình.

Đại diện Công ty TNHH một thành viên Việt Nam Kỹ nghệ súc sản (Vissan) thì chia sẻ: năm 2010, nhân viên xuất nhập khẩu nộp nhầm thuế nên công ty làm thủ tục xin được hoàn thuế. Thuế nhập khẩu sau đó đã được cơ quan hải quan hoàn lại nhưng thuế GTGT tổng cộng hơn 120 triệu đồng thì bị ách từ bấy đến nay. Nhân viên hết đi đến cơ quan thuế lại sang cơ quan hải quan vì hai bên chỉ qua chỉ lại. Lúc đầu, cơ quan hải quan hướng dẫn về Cục Thuế TPHCM để được hoàn thuế GTGT vì đây là việc của thuế nội địa. Sang Cục Thuế TPHCM, sau một thời gian chờ đợi, công ty nhận được hướng dẫn trở lại Chi cục Hải quan Tân Cảng. Lên Tân Cảng thì lại được hướng dẫn bằng miệng là về cục thuế.

Thiệt hại mình doanh nghiệp chịu

Ông Khương nhẩm tính với số tiền 2,65 tỉ đồng nằm ở cơ quan thuế ba năm qua, nếu ông đem gửi ngân hàng, tính lãi suất bình quân là 10%/năm thì ông đã có thêm 780 triệu đồng tiền lãi; nếu cho bên ngoài vay thì số tiền còn cao hơn. Vậy nhưng cả vốn lẫn lời (kỳ vọng) đó nằm chôn một chỗ. Và tất nhiên, không ai đền bù cho những thiệt hại tính được đó của doanh nghiệp.

Chị Mai Thư, Giám đốc một doanh nghiệp chuyên nhập khẩu nguyên phụ liệu sản xuất bao bì, cũng mang một nỗi ấm ức không nhỏ. Mới đây, công ty của chị nhận được quyết định xử phạt hành chính của cơ quan thuế vì chậm nộp thuế và tiền lãi chậm nộp, số tiền là 8 triệu đồng. Chị ấm ức không phải vì số tiền 8 triệu đồng (theo chị là không lớn) mà vì bản thân doanh nghiệp chị cũng đang bị tồn thuế GTGT cần hoàn gần 700 triệu đồng.

Nguyên nhân là hàng lưu kho năm, sáu tháng nay chưa bán ra được nên doanh nghiệp chấp nhận chưa làm hồ sơ hoàn thuế dù đã đóng đủ khi nhập khẩu. “8 triệu thì chúng tôi sẽ đóng thôi nhưng tôi cảm thấy ấm ức vô cùng với kiểu quản lý áp đặt đó. 700 triệu đồng kia của chúng tôi, nếu tính theo lãi suất ngân hàng một tháng được bao nhiêu tiền mà chúng tôi mới chậm nộp thuế vài ngày đã bị phạt và tính lãi khoản chậm nộp? Sao cơ quan thuế thì được quyền phạt còn doanh nghiệp thì không?”, chị Mai Thư thắc mắc.

Theo chị Thư, nỗi ấm ức càng lớn khi thấy các bạn hàng nước ngoài nói chuyện đóng thuế ở nước ngoài.

Chuyện thưởng phạt với doanh nghiệp lẫn cơ quan quản lý rất công bằng. Nếu cơ quan nhà nước có lỗi thì doanh nghiệp được bồi hoàn tiền cộng tiền lãi như lãi suất ngân hàng. Bên cạnh đó, người nộp thuế còn được trân trọng, cảm ơn. “Còn mình thì cứ như tội phạm”, chị Mai Thư so sánh.

Lý lẽ của cơ quan hoàn thuế

Về trường hợp của Công ty Khương Mai, lãnh đạo Cục Thuế TPHCM trả lời rằng quy định về hoàn thuế GTGT hiện hành không đề cập đến việc doanh nghiệp lỗ hay không lỗ. Nói cách khác, đây không phải là điều kiện để được hay không được hoàn thuế. Tuy nhiên, trong từng trường hợp cụ thể, cơ quan thuế cũng cân nhắc, tính toán vì trong thực tế có nhiều doanh nghiệp báo lỗ liên tục. Bên cạnh đó, có thể doanh nghiệp chưa đủ điều kiện hoàn thuế vì khi kiểm tra, cơ quan thuế thấy hạch toán chưa đúng quy định kế toán. Và còn phụ thuộc vào Quỹ hoàn thuế GTGT, trong một số thời điểm, cơ quan thuế đã ra quyết định hoàn thuế nhưng quỹ chưa đáp ứng được thì cũng đành hoàn trễ cho doanh nghiệp.

Về chuyện chậm hoàn thuế nói chung, một lãnh đạo của Cục Thuế TPHCM nhìn nhận là có rất nhiều nguyên nhân. Trong đó, lý do chủ yếu vì “đây là ngân sách nhà nước”, cán bộ thuế phải cẩn thận rà soát nhằm tránh sai sót, tránh phải chịu trách nhiệm sau này. Lý do thứ hai là cơ quan thuế địa phương phải cân đối với số tiền được Quỹ hoàn thuế GTGT phân bổ. “Vấn đề nằm ở chỗ, cơ quan cấp trên từ khi lập ra Quỹ hoàn thuế GTGT năm 2013 đã thực hiện phân bổ tiền cho các cơ quan thuế cấp dưới thấp hơn thực tế và con số đã được cấp dưới dự toán chính xác trước đó”, vị này nói.

Còn theo một cán bộ thuộc ngành hải quan, chính vì Bộ Tài chính quản Quỹ hoàn thuế GTGT rất chặt với số tiền phân bổ hàng năm theo một lượng nhất định nên mới xảy ra chuyện hải quan và thuế đẩy qua đẩy lại.

Thêm vào đó, quỹ thường xuyên rơi vào tình trạng “thâm hụt” nên hồ sơ từ năm này chuyển sang năm khác để lấy tiền phân bổ của năm sau là vậy.

Một người từng nhiều lần làm công việc hoàn thuế tiết lộ, vấn đề còn ở chỗ doanh nghiệp chấp nhận “lại quả” bao nhiêu cho cán bộ thuế để mọi việc được nhanh chóng. Số tiền được hoàn lớn thì tỷ lệ sẽ thấp, chừng 1%.

Số tiền được hoàn nhỏ thì tỷ lệ sẽ là 2%.

Theo: Minh Tâm - Thời Báo Kinh Tế Sài Gòn

Thứ Tư, 6 tháng 5, 2015

Người Việt gánh thuế phí cao nhất ASEAN: Đi ngược mong muốn!

Thuế phải trên tinh thần nuôi dưỡng nguồn thu chứ không phải chỉ vắt kiệt khả năng đóng góp của doanh nghiệp và người dân.

Chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan đã đưa ra quan điểm của mình trước con số mỗi người dân Việt Nam gánh chịu tỷ lệ thuế phí/GDP cao gấp từ 1,4 đến 3 lần so với các nước khác trong khu vực.

Kiệt sức lấy đâu tiền mà đóng?

PV: - Thưa bà, mới đây tại Diễn đàn kinh tế mùa xuân, một chuyên gia kinh tế đã chỉ ra một thực tế tại Việt Nam thu từ thuế và phí hiện nay ở mức rất cao. Cụ thể, mỗi người dân Việt Nam gánh chịu tỷ lệ thuế phí/GDP cao gấp từ 1,4 đến 3 lần so với các nước khác trong khu vực. Thưa bà, thực tế này đang thể hiện điều gì?

Chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan: - Đúng là phí và thuế ở Việt Nam thực sự là cao so với các nước trong khu vực mặc dù chính sách đã mấy lần giảm thuế cho doanh nghiệp nhưng trên thực tế thì vẫn rất cao, nhất là lại có quá nhiều loại.

Nhiều khi giảm loại thuế này nhưng cái khác lại cao nên vẫn đè vào doanh nghiệp và người dân. Còn phí thì quá nhiều. Mỗi gia đình nông dân mà cũng cõng đến mấy chục loại phí khác nhau.

Gần đây dư luận cũng đã phản ánh các sản phẩm nông sản cũng có biết bao nhiêu phí dọc đường đè nặng lên.

Điều này thể hiện nguồn thu ngân sách đang khó khăn. Cũng như giới chuyên môn nhiều người đã phân tích là do nợ công tăng cao và thâm hụt ngân sách nặng nề.

Do vậy cũng có thể hiểu được do nợ công tăng cao, thâm hụt ngân sách nặng nên phải tìm các khoản khác nhau để bù vào phần bị thâm hụt.

Tôi cho rằng điều này đang đi ngược với mong muốn tạo đà để nền kinh tế phát triển bền vững.

Gánh thuế phí cao, người dân đang mỏi sức. Ảnh minh họa

PV: - Khi thuế, phí tăng cao, doanh nghiệp phải tăng giá sản phẩm để có lãi và xét cho cùng thì người dân lại là đối tượng cuối cùng đang đưa vai ra gánh gánh nặng này. Trong khi đó, kinh tế suy giảm ảnh hưởng trực tiếp, khiến thu nhập của đại đa số người dân bị ảnh hưởng. Theo bà tình thế hiện nay của người dân phải được nhìn nhận và giải quyết ra sao?

Chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan: - Có thể thấy việc tăng thuế, phí trước mắt thì có thể có thêm để bù vào phần thâm hụt nhưng về lâu dài thì có thể các gánh nặng đó nợ thêm về thâm hụt. Bởi vì các doanh nghiệp và người dân không còn sức để đóng thuế, không làm ăn có lời được nữa thì lấy đâu tiền mà đóng?.

Cứ nhìn vào con số 6-7 vạn doanh nghiệp đóng cửa trong một năm thì sẽ thấy mất đi biết bao nhiêu người đóng thuế. Những người lao động lại mất việc làm thì yêu cầu an sinh xã hội tăng lên, thêm gánh nặng cho nhà nước. Tất cả sẽ thành vòng luẩn quẩn.

Trong điều kiện khó khăn như vậy thì sức mua của xã hội giảm xuống thì doanh nghiệp không đóng góp vào tăng trưởng được. Khi đó tăng trưởng cũng không được mà người nộp thuế cũng không có hoặc khả năng nộp thuế giảm đi.

Tôi nghĩ rằng trên bình diện chung cơ quan quản lý cần phải nhìn nhận lại bởi thuế phải trên tinh thần nuôi dưỡng nguồn thu chứ không phải chỉ vắt kiệt khả năng đóng góp của doanh nghiệp và người dân.

PV: - Ở hoàn cảnh hiện nay, liệu chúng ta có lựa chọn nào khác ngoài việc tăng thuế phí để bù thu ngân sách? Chúng ta cần làm thế nào để tháo gỡ khó khăn hiện nay?

Chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan: - Trên thực tế các doanh nghiệp Việt Nam không có cửa để tăng giá nữa vì đang phải cạnh tranh rất gay gắt với hàng nhập khẩu.

Càng ngày xu hướng tự do hóa thương mại mở ra thì dòng sản phẩm của các nước tràn vào Việt Nam càng nhiều hơn. Hàng rẻ thì là hàng Trung Quốc, hàng khá hơn về chất lượng mẫu mã một chút là hàng Thái Lan và các nước xung quanh.

Chính vì thế các doanh nghiệp chịu sức ép cạnh tranh ghê gớm cho nên họ không còn cửa để tăng giá. Chính điều này lý giải vì sao các doanh nghiệp ngưng hoạt động vẫn tiếp tục tăng lên là như vậy.

Đáng lẽ ra khi thiếu hụt ngân sách thì việc đầu tiên cơ quan quản lý phải nghĩ đến là tiết kiệm chi tiêu, giảm đầu tư công. Nhưng thực sự nhà nước hoàn toàn chưa tiết kiệm được.

Nhân đây đáng ra phải tổng rà lại và cắt chi tiêu thường xuyên quá nhiều và lãng phí hiện nay. Một trong những thước đo của cải cách thủ tục hành chính phải là giảm bớt đội ngũ công chức, viên chức. Thế nhưng đội ngũ đó vẫn quá đông.

Theo: Đất Việt

Thứ Ba, 5 tháng 5, 2015

Quyền đã trao, doanh nghiệp có sử dụng?



Thực hiện hải quan điện tử tại cảng Cát Lái. Ảnh: KINH LUÂN

Doanh nghiệp sẽ sử dụng quyền của mình theo Luật Hải quan năm 2014 đến đâu trong bối cảnh còn nhiều vấn đề không dễ giải quyết kiểu một với một bằng hai?

Luật Hải quan vừa được Quốc hội thông qua năm 2014, có hiệu lực từ năm 2015, đã mở ra rất nhiều quyền cho doanh nghiệp xuất nhập khẩu, từ việc ngồi nhà khai báo, thực hiện hải quan điện tử cho đến quyền khiếu nại, yêu cầu cơ quan hải quan chịu trách nhiệm, bồi thường cho những thiệt hại xảy ra khi đòi hỏi, nghi vấn của cơ quan này không chính xác...

Quyền đã trao...

Luật Hải quan năm 2014 đã đơn giản hóa được 41 và cắt giảm được 14 bộ thủ tục hành chính. Mọi hoạt động đều thông qua phương thức điện tử. Quan trọng hơn, luật đã có những thay đổi quan trọng, trao nhiều quyền cho doanh nghiệp.

Thứ nhất, từ ngày 1-4-2015 (thời hạn Thông tư 38/2015/TT-BTC có hiệu lực), các doanh nghiệp khu chế xuất thực hiện sản xuất - xuất khẩu và gia công không phải đăng ký định mức nguyên phụ liệu và không cần từng tờ khai, sẽ không còn cảnh mang từng chồng hồ sơ lên quyết toán với cơ quan hải quan như lâu nay mà quyết toán theo năm. Để quản lý, cơ quan hải quan sẽ kiểm tra hàng năm và sẽ phạt rất nặng, thậm chí buộc ngừng hoạt động sản xuất - xuất khẩu và gia công những doanh nghiệp gian lận về số lượng.

Thứ hai, doanh nghiệp sẽ được phân loại theo tiêu chí: doanh nghiệp ưu tiên, doanh nghiệp tuân thủ và doanh nghiệp không tuân thủ. Đây là một cơ sở để phân luồng hàng hóa. Theo đó, doanh nghiệp ưu tiên sẽ được miễn kiểm tra chứng từ liên quan thuộc hồ sơ hải quan, miễn kiểm tra thực tế hàng hóa trong quá trình thực hiện thủ tục; được làm thủ tục hải quan bằng tờ khai chưa hoàn chỉnh hoặc chứng từ thay thế tờ khai và được bổ sung trong vòng 30 ngày sau đó; được cơ quan hải quan và các cơ quan kinh doanh cảng, kho bãi ưu tiên làm thủ tục giao nhận hàng hóa trước, ưu tiên kiểm tra giám sát trước...
Doanh nghiệp sẽ chọn cách hài hòa chứ khó có thể rạch ròi, phân định giữa dùng quyền hay không dùng quyền, chống tiêu cực hay thỏa hiệp.
Ông Đinh Công Khương,
Chủ tịch Hội đồng thành viên
Công ty TNHH Thương mại Dịch vụ Thép Khương Mai


Thứ ba, doanh nghiệp được đăng ký xác định trước xuất xứ, mã số và trị giá hàng hóa với cơ quan hải quan. Khi đã đăng ký thành công thì hàng hóa đó sẽ được chấp nhận trước trong vòng ba năm để tính thuế. Doanh nghiệp cũng không cần xuất trình trước văn bản xác nhận mà chỉ cần khai báo trong tờ khai. Cán bộ hải quan ở cấp chi cục không được yêu cầu doanh nghiệp cung cấp giấy chứng nhận đăng ký mà phải tự tìm trên hệ thống.

Thứ tư, về giá tính thuế, nếu cơ quan hải quan có nghi vấn về giá hàng nhập khẩu đã thanh toán để tính thuế thuộc các lô hàng được phân luồng vàng, đỏ thì doanh nghiệp được phép từ chối mọi nghi vấn tại khâu trong thông quan, thực hiện nộp thuế theo khai báo ban đầu. Cơ quan hải quan chỉ được phép kiểm tra ở khâu sau thông quan. Việc của doanh nghiệp là phải lưu trữ hồ sơ cẩn thận vì làm mất chứng từ sẽ bị truy thu thuế.

Thứ năm, việc phân loại hàng hóa (để áp thuế) được quy định tại biểu thuế. Tuy nhiên, có những mặt hàng áp được cả với chương này lẫn chương kia. Trong trường hợp có tranh chấp, cơ quan hải quan yêu cầu đi phân tích thì doanh nghiệp phải thực hiện. Nếu kết quả đúng như khai báo của doanh nghiệp thì doanh nghiệp được yêu cầu hải quan bồi thường các chi phí phát sinh như lưu kho, lưu bãi... Ngược lại, kết quả đúng như cơ quan hải quan nghi ngờ thì doanh nghiệp phải nộp thuế bổ sung.

Thứ sáu, về xuất xứ hàng hóa (C/O), nếu chưa có tại thời điểm đăng ký tờ khai, doanh nghiệp khai báo theo mức thuế ưu đãi mà không cần có công văn nợ C/O như trước đây. Khi có thì mang bản chính lên bổ sung để được tính lại thuế và được hoàn thuế dư, hoàn thuế giá trị gia tăng. Việc hoàn thuế cũng do chính cơ quan hải quan thực hiện, không cần chuyển về cơ quan thuế địa phương. Bên cạnh đó, khi xét miễn thuế, hoàn thuế, doanh nghiệp không cần nộp tờ khai mà đây là việc của công chức hải quan. Doanh nghiệp chỉ cần nộp công văn đề nghị với lô hàng cụ thể. Cơ quan hải quan sẽ đến kiểm tra trước tại doanh nghiệp rồi mới ra quyết định hoàn thuế.

Doanh nghiệp có sử dụng?

Ông Đinh Công Khương, Chủ tịch Hội đồng thành viên Công ty TNHH Thương mại Dịch vụ Thép Khương Mai, chuyên nhập khẩu thép, người từng chia sẻ là công ty mình liên tục bị áp giá tính thuế cao hơn giá thanh toán, bị cán bộ hải quan đặt vấn đề chi tiền... nói với TBKTSG rằng, vấn đề nằm ở chỗ người thực thi chính sách là các công chức hải quan tại các cảng (chi cục). Những người này thường “soi” những sơ suất nhỏ của doanh nghiệp trong hồ sơ giấy tờ để kiếm lợi cho cá nhân.

Theo ông Khương, doanh nghiệp sẽ chọn cách hài hòa chứ khó lòng có thể rạch ròi, phân định giữa dùng quyền hay không dùng quyền, chống tiêu cực hay thỏa hiệp. Mọi thứ đều có giới hạn nhất định, nếu trong ngưỡng chịu đựng thì doanh nghiệp sẽ chấp nhận. “Còn với những đòi hỏi quá đáng, lên tới vài chục triệu đồng mà hàng thì chưa về, cộng với lỗ lã nữa... thì không thể chấp nhận”, ông Khương thẳng thắn.

Cũng theo ông Khương, cách của doanh nghiệp lâu nay khi gặp chuyện nhũng nhiễu khó chấp nhận là lên gặp cấp trên trực tiếp để được giải quyết. Cách này đang phát huy hiệu quả khá tốt.
Ông L.T.N., Phó giám đốc Công ty Xuất nhập khẩu NKC, thì nhìn nhận mọi chuyện không đơn giản như những câu chữ của luật. Theo ông, trước Luật Hải quan năm 2014 này cũng đã có những quy định về việc công chức hải quan không được làm cái này, được làm cái kia và doanh nghiệp có quyền yêu cầu, bác bỏ, khiếu nại (ví dụ thời gian thông quan hàng hóa kéo dài, tờ khai bị treo trên hệ thống...). Tuy nhiên, mọi thứ không áp dụng được vào trong thực tế vì trăm ngàn lý do có trong luật và không có trong luật. Kết quả là doanh nghiệp cứ phải lót tay để mọi thứ được nhanh chóng, suôn sẻ, kiểu như để có xác nhận tờ khai ngay, để cán bộ ký hồ sơ sớm mà không phải chờ hàng giờ vì... “bận họp”. “Đó là trường hợp hàng của mình bình thường, không có vấn đề gì đấy. Có vấn đề thì lại khác nữa”, ông N. nói.

Vì vậy, theo cả ông Khương và ông N., giải pháp mấu chốt là công tác giám sát công chức, cán bộ ngành hải quan trong việc tuân thủ quy định pháp luật, kỷ luật ngành cũng như xử lý người trong nội bộ vi phạm. Tất nhiên, việc này không dễ và cần thời gian dài.

Trong khi đó, ông Nguyễn Quốc Toản, Phó trưởng phòng Phòng Thuế xuất nhập khẩu, Cục Hải quan TPHCM, cho rằng đồng thời với sự đổi mới về chính sách quản lý hải quan, việc quan trọng không kém là các doanh nghiệp cũng phải thay đổi. Đó không chỉ là tuân thủ quy định chịu trách nhiệm mọi lời khai mà còn phải nắm chắc quy định pháp luật. “Bây giờ nếu không biết sẽ là một bất lợi. Biết thì mới có cơ sở để lập luận lại, để từ đó triệt tiêu tình trạng cán bộ hải quan nhũng nhiễu, tiêu cực”, ông Toản nhấn mạnh.

Theo ông Toản, ngành hải quan nói chung và Cục Hải quan TPHCM nói riêng không có chủ trương để cán bộ công chức tiêu cực. Vì vậy, doanh nghiệp cần thực hiện quyền của mình cũng như tố cáo để cán bộ nhũng nhiễu, vòi vĩnh bị xử lý.

Một lãnh đạo cấp phòng của một cục hải quan phía Nam đánh giá, với những quyền được trao rõ ràng như hiện nay, doanh nghiệp sẽ dần không thỏa hiệp với tiêu cực. Tuy nhiên, đồng thời với quyền thì doanh nghiệp cũng có rất nhiều nghĩa vụ cần thực hiện. Trong đó, tiên quyết là chất lượng hàng hóa phải đảm bảo các quy chuẩn, tiêu chuẩn.

Nguồn: Minh Tâm-Thời Báo Kinh Tế Sài Gòn

Chủ Nhật, 3 tháng 5, 2015

Chuyên nghiệp nhân sự kế toán-kiểm toán: mũi tên trúng nhiều đích

Hotline: 0903 615 248 - 0945 94 94 39
Chuyên nghiệp nhân sự kiểm toán: mũi tên trúng nhiều đích 
Số người sở hữu chứng chỉ nghề nghiệp kế toán quốc tế tăng mạnh trong những năm gần đây

Trao đổi với ĐTCK, bà Lê thị Hồng Len, Trưởng đại diện Hội Kế toán công chứng Anh quốc (ACCA) tại Việt Nam cho rằng, trong 5 năm gần đây, nhân sự ngành kế toán, kiểm toán phát triển mạnh cả về số lượng và chất lượng, số kiểm toán viên có bằng cấp quốc tế tăng đều hàng năm. Nguồn nhân lực chất lượng cao, đạt chuẩn quốc tế này đang đóng góp những giá trị và lợi ích thiết thực cho nền kinh tế Việt Nam.

Bà có nhận xét như thế nào về sự chuyển biến trong lượng và chất nhân sự ngành kế toán, kiểm toán trong 5 năm trở lại đây?

Trong 5 năm gần đây, nhân sự ngành kế toán, kiểm toán rõ ràng đã có những sự phát triển rất đáng mừng, cả về số lượng và chất lượng. Tuy chưa phải là sự phát triển nhanh như các nước khác trong khu vực, nhưng con số các kiểm toán viên có bằng cấp quốc tế như ACCA đang tăng dần đều hàng năm. Còn nếu so sánh về chất lượng thì những người có bằng ACCA tại Việt Nam cũng có chất lượng tương đương với các hội viên ACCA ở các nước khác.

Chỉ riêng năm 2014, chúng tôi có 162 sinh viên tốt nghiệp, hoàn tất chương trình ACCA, trong khi cùng thời điểm năm 2013 chỉ có 77 người. Cùng với hơn 8.500 học viên đang theo học các chương trình của ACCA, chúng ta hoàn toàn có quyền lạc quan về số lượng và chất lượng của nhân sự trong lĩnh vực này trong những năm tới.



Bà Lê thị Hồng Len

Sự xuất hiện của các hội nghề nghiệp quốc tế tại Việt Nam có những ảnh hưởng gì đến nhân sự ngành kế toán, kiểm toán, thưa bà?

Ngành kế toán, kiểm toán Việt Nam còn khá non trẻ so với các nước trong khu vực. Ở các nước phát triển như Anh quốc, hội nghề nghiệp có vai trò rất quan trọng trong việc phát triển cũng như kiểm soát chất lượng nghề nghiệp của các kế toán viên, kiểm toán viên. Như ACCA được thành lập tại Anh quốc từ năm 1904 và với bề dày lịch sử 111 năm ACCA đã có sự phát triển vững chắc về mọi mặt. Chính thức đặt văn phòng đại diện tại Việt Nam từ năm 2002, trước cả khi Hội Kiểm toán viên hành nghề (VACPA) được thành lập, ACCA đã mang đến Việt Nam những khái niệm mới về ngành này, tuy không phải là mới trên thế giới.

Trước khi ACCA có sự hiện diện thì những khái niệm như “qualified accountant”, “certified accountant” (kế toán viên công chứng) vẫn còn rất xa lạ với Việt Nam và bằng đại học vẫn là điều kiện cần và đủ để làm việc trong lĩnh vực kế toán, kiểm toán. Cùng với sự góp mặt của các hội nghề nghiệp quốc tế, mọi người hiểu ra rằng kế toán chính là xương sống của mọi loại hình doanh nghiệp và với sự chuyển động của những mô hình kinh tế, của luật định... thì những kiến thức bạn học ở trường đại học sẽ nhanh chóng trở nên lỗi thời, không thể áp dụng vào công việc đòi hỏi bạn phải luôn cập nhật kiến thức, luôn phải học hỏi nâng cao. Ngoài kiến thức và kỹ năng thì người hội viên của hội nghề nghiệp còn phải tuân thủ các quy tắc về chuẩn mực đạo đức và đảm bảo chất lượng công việc của mình.

Tôi vui mừng và xúc động mỗi khi có dịp gặp gỡ các lãnh đạo trong ngành này và được họ bày tỏ “sự cảm kích” về việc ACCA đã đóng góp ra sao trong sự phát triển nói chung của ngành kế toán, kiểm toán tại Việt Nam. Và đây cũng là mục tiêu của chúng tôi khi đến thị trường này. Đó là nhằm chung sức xây dựng một nguồn nhân lực chất lượng cao, đạt chuẩn quốc tế, chia sẻ những thông lệ quốc tế với Việt Nam, đóng góp giá trị và lợi ích thiết thực cho sự phát triển của ngành nghề và nói rộng ra là nền kinh tế tại Việt Nam

Việc đạt được chứng chỉ nghề nghiệp quốc tế, đơn cử ACCA đem đến các cơ hội nghề nghiệp mới như thế nào cho các học viên, thưa bà?

Nếu bạn đến tham dự một buổi đón tiếp hội viên mới của chúng tôi, bạn sẽ được nghe các chia sẻ rất thực tế, rất chân thành về việc ACCA đã mang lại cho họ những cơ hội nghề nghiệp như thế nào. Tôi thích để Hội viên của chúng tôi tự lên tiếng về việc này hơn là nói thay họ. Tuy nhiên, có thể nói vắn tắt rằng, nhiều người đang thành đạt ở những vị trí rất cao của các doanh nghiệp khác nhau khi gặp chúng tôi vẫn nhắc lại rằng, ACCA chính là đòn bẩy giúp họ trở thành người của ngày hôm nay.

Ngay tại buổi lễ tốt nghiệp năm 2015, một bạn học viên tốt nghiệp xuất sắc tại Hà Nội đã nhận được lời mời đến với một công việc hấp dẫn tại TP. HCM. Trong khi ở TP. HCM, một bạn hội viên trẻ măng mới 23 tuổi đã và đang đảm nhiệm vị trí kiểm toán nội bộ cho một công ty lớn của nước ngoài và điều thú vị là bạn ấy không hề học qua các chương trình đại học trong nước, mà học thẳng với ACCA sau khi tốt nghiệp phổ thông trung học. Giờ thì bạn ấy có bằng cử nhân của Đại học Oxford Brooks của Anh và bằng ACCA cùng với một công việc nhiều người mơ ước, trong khi rất nhiều bạn trẻ đồng lứa vẫn đang loay hoay trước ngưỡng cửa cuộc đời với câu hỏi đi học tiếp hay chấp nhận làm một công việc không đúng chuyên môn và không yêu thích.

Theo bà, nhân lực trong lĩnh vực kế toán, kiểm toán nói riêng và tài chính nói chung ở Việt Nam cần lưu ý những vấn đề gì, nhất là trong bối cảnh hội nhập hiện nay?

Có rất nhiều điều mà những nhân lực theo đuổi ngành kế toán, kiểm toán cần lưu ý. Có nhiều điều cũng được sách vở nói đến nhiều điều như chiến lược, việc nắm bắt và thấu hiểu những loại hình kinh doanh, có cái nhìn toàn diện về các rủi ro tiềm ẩn, các cơ hội và đặc biệt là đạo đức nghề nghiệp. Nhưng ở đây, tôi muốn nói đến khía cạnh khác một chút, đó là kỹ năng giao tiếp (communication).

Trước đây, chúng ta hay quan niệm rằng làm nghề kế toán, kiểm toán là làm việc với những con số thì cần gì giao tiếp tốt, chưa kể các anh chị giám đốc tài chính là những người nắm vị trí “dưới một người trên vạn người” thì luôn được mọi người e dè giữ khoảng cách. Quan niệm đó thực sự lỗi thời.

Theo tôi, kỹ năng giao tiếp nói chung và giao tiếp bằng tiếng Anh nói riêng là một vấn đề mà các bạn làm nghề này cần đặc biệt lưu ý trong bối cảnh hội nhập. Giao tiếp tốt giúp mình hiểu người và giúp người hiểu mình. Chúng ta không chỉ cần giao tiếp với đồng nghiệp, mà với hội đồng quản trị, với nhà đầu tư, với cổ đông, với khách hàng, với nhà cung cấp… và thông qua giao tiếp giúp chúng ta đạt được những mục tiêu của mình. Có thể nói rằng, một giám đốc tài chính giỏi, những ứng viên sáng giá cho vị trí CEO cũng chính là những chuyên gia xuất sắc trong giao tiếp.

Một điều nữa mà các là kỹ năng networking (tạo dựng mối quan hệ). Trong thế giới mở như hiện nay, cơ hội công việc có thể đến từ rất nhiều nguồn khác nhau và việc giao tiếp, với những cộng đồng khác nhau sẽ mang lại nhiều lợi ích bất ngờ. ACCA có hơn 600.000 hội viên và học viên trên thế giới và một người biết tận dụng những cơ hội mà mạng lưới này mang lại là vô tận. Chúng tôi tạo ra nhiều diễn đàn, các trang liên kết hội viên, các cuộc gặp gỡ hàng tháng, hàng quý để các bạn hội viên được gặp gỡ, kết nối với nhau và với những chuyên gia hàng đầu trong nhiều lĩnh vực. Chính từ những cuộc gặp gỡ này mà có nhiều cơ hội kinh doanh đã nảy sinh và có kết quả tốt đẹp.

Một anh hội viên ACCA từ Hà Nội chuyển vào sinh sống và làm việc tại TP. HCM, khi tôi hỏi anh có gặp khó khăn với việc tìm kiếm khách hàng và đối tác, anh cười bảo anh bận và làm không hết việc và rất nhiều cơ hội công việc mà anh có được là từ network của ACCA mà anh đã tham gia.

Ở góc độ nhà sử dụng lao động, các DN, tổ chức tài chính nên có những nhìn nhận, ứng phó như thế nào để có thể quản trị nhân sự một cách tốt nhất?

Doanh nghiệp cần giả định và lập kế hoạch cho những tình huống bất ổn. Khi sự bất ổn trở thành chuẩn mực mới, doanh nghiệp phải xem biến động là một khả năng rất có thể xảy ra và xây dựng chiến lược cho nhiều tình hướng thị trường và kinh tế khác nhau. Ngoài ra, họ cần phải hiểu những khác biệt do thế hệ, do sự toàn cầu hóa mang lại. Ở ACCA, chúng tôi có những nghiên cứu sâu về các thế hệ nhân sự khác nhau qua mỗi thời kỳ và nhận thấy có những vấn đề khác biệt. Các bạn trẻ sinh từ năm 1980 trở về sau sẽ có những mong muốn và hành xử khác với thế hệ trước. Từ đó, doanh nghiệp có thể đề ra những chiến lược để đào tạo và phát triển nhân sự của mình, nhằm tối ưu hóa những kỹ năng làm việc cũng như tạo điều kiện để họ phát triển và đóng góp vào sự thanh công của doanh nghiệp.

Ngoài ra, việc tận dụng công nghệ một cách hiệu quả cũng quan trọng như việc phát triển năng lực quản lý để hợp tác, thích nghi và tận dụng tốt nhất lợi thế của lực lượng lao động ở nhiều địa điểm, đa văn hóa và thuộc nhiều lứa tuổi. Với điều này, không nghi ngờ gì nữa, doanh nghiệp cần phát triển công nghệ, vì sự phát triển của công nghệ thông tin đã khiến công nghệ trở thành trung tâm của chiến lược và hoạt động của doanh nghiệp ở mọi quy mô.

Cuối cùng, các công ty cần phát triển tư duy tìm tòi, thử nghiệm và thích nghi, vốn là nhân tố quan trọng dẫn đến thành công trong môi trường ngày càng phức tạp và thay đổi nhanh này.

Nguồn: Hạnh Trần - tinnhanhchungkhoan